Home Cơ hội trong khủng khoảng Hiện hữu về một cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới

Hiện hữu về một cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới

by X1000
0 comment

Bất kể một quốc gia thịnh vượng nào cũng có lúc suy tàn, dù cho đó là các đế chế hùng mạnh trong lịch sử tiêu biểu là Đế quốc Mông Cổ từng chinh phạt từ Đông Á cho đến một phần lớn lãnh thổ Châu Âu; Đế quốc Ba Tư hùng mạnh có thuộc địa rộng lớn trải dài từ khu vực Trung Á, Ấn Độ, Châu Âu, Địa Trung Hải và một phần rộng lớn lục địa đen; ngoài ra là các đế chế hùng mạnh khác như Đế quốc La Mã, Vương quốc Caliphate của đế chế Arab, Đế chế của Vương Quốc Anh với câu nói nổi tiếng “Mặt trời không bao giờ lặn trên vương quốc Anh”. Dù hùng mạnh đến đâu thì vì nhiều lý do thì tất cả các đế quốc này cũng đã suy tàn và sụp đổ. Vậy kết luận rút ra ở đây chính là không có gì là thịnh vượng và tồn tại mãi mãi dù bất kể lý do gì đi nữa.

Theo cái nhìn của lịch sử thì bên cạnh các cuộc chinh phạt thì các cuộc sụp đổ kinh tế chính là nguyên nhân gây thiệt hại đến nhiều người và diện rộng nhất. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới mức độ khó khăn tài chính mà còn gây lan những thiệt hại to lớn và có thể cuốn bay đi một đất nước về con số 0 thậm chí là con số âm.

Các cuộc khủng hoảng kinh tế tiêu biểu trong lịch sử nhân loại

  1. Khủng hoảng tín dụng 1772 tại London (Vương Quốc Anh)

Khủng hoảng tín dụng năm 1772 khởi đầu từ London, cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng lan ra toàn châu Âu.

Những năm 1760 và 1770, vương triều Anh trở nên vô cùng giàu có nhờ vào thương mại và thuộc địa.

Các ngân hàng nước này phóng khoáng hơn trong việc cho vay tín dụng với niềm tin về một viễn cảnh thịnh vượng. Ngày 8/6/1772, Alexander Fordyce – một trong những đối tác của ngân hàng Neal, James, Fordyce, và Down – mang theo khoản nợ chưa thanh toán chạy trốn sang Pháp.

Tin tức lan nhanh và dấy lên sự hỗn loạn cho các ngân hàng Anh. Các chủ nợ đứng chật kín trước của ngân hàng đòi rút tiền. Khủng hoảng lan nhanh đến Scotland, Hà Lan, nhiều vùng khác ở châu Âu và các thuộc địa khu vực châu Mỹ của Anh. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng được xem là 1 trong những tác nhân dẫn đến nổi loạn tiệc trà Boston và Cách mạng Mỹ.

  1. Cuộc đại suy thoái 1929-1939

Đây được xem là cuôc khủng hoảng tài chính kinh tế tồi tệ nhất của thế kỷ 20. Nhiều người cho rằng sự sụp đổ ở thị trường chứng khoán phố Wall 1929 là nguồn gốc khủng hoảng và những quyết định chính sách sai lầm chính phủ Mỹ càng làm cho nó thêm nghiêm trọng.

Cuộc suy thoái kéo dài gần 1 thập niên đã ghi nhận mức thua lỗ khổng lồ, tỷ lệ thất nghiệp cao kỷ lục cùng với việc sản xuất lao dốc, đặc biệt ở những nước công nghiệp hóa. Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ chạm tới mức đỉnh 25% vào 1933.

  1. Khủng hoảng giá dầu OPEC 1973

Cuộc khủng hoảng giá dầu khiến chỉ số FT30 của Sở Giao dịch Chứng khoán London bốc hơi 73% giá trị, GDP của Mỹ giảm 3,2%.

Khủng hoảng nổ ra khi các quốc gia thuộc Tổ chức Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) quyết định trả đũa nước Mỹ vì hỗ trợ vũ trang cho Israel trong thời kỳ chiến tranh lần thứ tư giữa Arab và Israel.

Các nước OPEC tuyên bố cấm vận dầu mỏ, ngừng xuất khẩu dầu cho Mỹ cũng như các nước đồng minh, dẫn đến việc thiếu dầu trầm trọng và tăng giá dầu, nặng nề hơn là khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và nhiều quốc gia phát triển.

Tình hình lạm phát cao gây ra bởi giá xăng dầu tăng và kinh tế suy thoái do khủng hoảng kinh tế diễn ra cùng lúc. Thời kỳ lạm phát đình trệ – stagflation – được nhiều nhà kinh tế học ghi nhận. Phải tốn đến vài năm sau đó thì sản xuất kinh doanh mới hồi phục và lạm phát trở về mức trước khi khủng hoảng xảy ra.

  1. Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997

Khủng hoảng xảy ra ở Thái Lan năm 1997 và lan rộng đến các nước Đông Á. Dòng vốn đầu cơ từ các nước phát triển đổ vào các quốc gia Đông Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, Hong Kong và Hàn Quốc.

Dòng vốn khổng lồ tạo ra tín dụng phóng khoáng, tích lũy nợ ở những nền kinh tế này. Vào tháng 7/1997, chính phủ Thái Lan đã xóa bỏ tỷ giá hối đoái cố định với đồng dollar vốn đã tồn tại quá lâu, dẫn đến thiếu ngoại tệ trong thị trường.

Thị trường tài chính châu Á trở nên hỗn loạn, nhanh chóng kéo theo hàng triệu USD đầu tư nước ngoài ồ ạt rút đi. Hiệu ứng lan tỏa khiến cho các nhà đầu tư lo sợ sự sụp đổ thị trường Đông Á có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IFM) đã phải vào cuộc bằng việc đưa ra gói hỗ trợ cho những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất – nhằm tránh việc vỡ nợ xảy ra.

  1. Khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2008

Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007-2009 là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán). Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp.

Bắt nguồn khi bong bóng nhà đất ở Mỹ sụp đổ, cuộc khủng hoảng đã khiến cho Ngân hàng Lehman Brothers (một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới) phá sản, kéo theo hàng loạt những doanh nghiệp và thể chế tài chính chủ chốt đến trên bờ vực sụp đổ.

Chính phủ lúc đó đã phải đưa ra khoảng cứu trợ lớn chưa từng có. Sau gần một thập niên, khi mà hàng triệu việc làm và hàng tỷ USD lợi nhuận bốc hơi, thị trường mới có dấu hiệu phục hồi.

Khủng hoảng kinh tế thời hiện đại tại Venezuela

Từng là cường quốc giàu nhất khu vực Mỹ Latin với dự trữ dầu thô lớn nhất thế giới, Venezuela giờ quay cuồng trong lạm phát phi mã và thiếu thốn.

Nhiều năm đối mặt với lạm phát ngày càng tăng tốc, giới chức Venezuela cuối năm ngoái nghĩ ra cách phát hành tiền mệnh giá lớn hơn. Sau đó vài tháng, họ cho biết sẽ bỏ 3 số 0 trên tờ tiền. Khi chừng đó dường như vẫn chưa đủ, cuối tháng 7, Venezuela tuyên bố sẽ xóa tới 5 số 0.

Các biện pháp này đã khiến những người Venezuela như Yosmar Nowak – chủ một quán cà phê tại thủ đô Caracas tin rằng chính phủ đã hết cách. Và họ thậm chí chẳng thể hạ được giá một cốc cà phê – vốn đã lên đến 2 triệu bolivar.

“Cứ tưởng tượng nếu mọi chuyện tiếp tục thế này, đến tháng 12, chúng ta sẽ phải làm điều tương tự”, Nowak nói. Năm nay, bà đã phải nâng giá đồ uống 40 lần.

Xóa bớt số 0 trong đồng bolivar hiện tại là trụ cột trong nhóm chính sách cải tổ kinh tế mà Tổng thống Nicolas Maduro muốn thực hiện, nhằm vực dậy nền kinh tế đã nhiều năm chìm trong khủng hoảng. Lạm phát Venezuela năm nay đã lên hơn 32.700%, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ví với Đức năm 1923 và Zimbabwe cuối những năm 2000. Cuối năm nay, con số này được dự báo lên tới 1 triệu phần trăm.

Tiền mới có tên “sovereign bolívar”, sẽ lưu thông từ 20/8. Trong thông báo cuối tuần trước, Venezuela còn công bố hàng loạt chính sách khác, như tăng lương tối thiểu tháng lần thứ 5 trong năm, neo nội tệ vào đồng petro – tiền ảo do nước này phát hành, tăng thuế thu nhập doanh nghiệp và giá xăng (vốn được trợ cấp mạnh tay), việc kiểm soát tiền tệ (vốn khiến người Venezuela không thể tiếp cận đồng đôla nhiều năm qua) cũng sẽ được nới lỏng.

Tuy nhiên, những thay đổi này không đủ thuyết phục các nhà kinh tế học. Họ đã theo sát các động thái của ông Maduro thời gian qua và cho rằng tiền mới chỉ là chương tiếp theo trong hàng thập kỷ quản lý kinh tế sai lầm đang hủy hoại quốc gia dầu mỏ này.

Venezuela từng là cường quốc giàu nhất khu vực Mỹ Latin và cũng là nước có dự trữ dầu thô lớn nhất thế giới. Khi ấy, dầu mỏ được xem là “giếng tiền” vô tận của quốc gia này. Tuy nhiên, giá dầu giảm và sai lầm trong quản lý kinh tế trong nhiều năm đã khiến họ chìm vào khủng hoảng từ năm 2014. Cuộc khủng hoảng khiến Venezuela không thể duy trì hệ thống trợ giá và kiểm soát giá cả như trước đây. Hệ quả là lạm phát ngày càng tăng tốc, nội tệ mất giá và tình trạng thiếu nhu yếu phẩm diễn ra tràn lan.

“Xóa số 0 chỉ giải quyết được hình thức thôi”, Steve Hanke – nhà kinh tế học ứng dụng tại Đại học Johns Hopkins nhận xét, “Điều này chẳng có ý nghĩa gì, trừ phi anh thay đổi chính sách kinh tế”.

Ông Maduro đang giải quyết tình trạng mà các nhà kinh tế học gọi là “vấn đề xe cút kít” khi lạm phát phi mã. Đây là thời điểm tiền tệ trở nên mất giá đến mức để mua hàng, người ta cần đến cả xe tiền.

Tiền mới có thể giúp giá cốc cà phê tại cửa hàng của bà Nowak giảm xuống. Tuy nhiên, chẳng mấy người cho rằng nó có thể giữ được lâu. “Chúng tôi sợ là lương tối thiểu sẽ tăng và lạm phát dĩ nhiên cũng sẽ cao lên. Thứ Hai chúng tôi sẽ không mở cửa đâu”, bà nói.

Vấn đề của Venezuela không nằm ở những số 0, mà là ở nguyên nhân khiến chúng xuất hiện. Chính phủ Venezuela phụ thuộc vào nguồn thu từ công ty dầu mỏ quốc doanh để trả nợ. Tuy nhiên, quản lý sai lầm đã khiến sản xuất tại đây chỉ còn 1,2 triệu thùng một ngày trong tháng 7 – bằng với mức hàng tháng năm 1947.

Đối mặt với sự thiếu hụt này, Chính phủ Venezuela đề nghị Ngân hàng Trung ương in thêm tiền. Việc này tuy có thể giúp họ thanh toán nhiều khoản trong ngắn hạn, nó lại khiến những người nắm giữ đồng bolivar chịu thiệt. Dư cung tiền cũng khiến giá trị đồng bolivar lao dốc.

Tổng thống Maduro thì đổ lỗi cho các đối thủ và các biện pháp trừng phạt của Mỹ khiến nền kinh tế Venezuela sụp đổ. Đồng thời, thái độ kém thân thiện của ông với các doanh nghiệp nước ngoài cũng tạo nên một cuộc di cư tập thể. Hàng loạt công ty lớn, như Pepsi, General Motors, United Airlines đều đã dừng hoạt động tại quốc gia này.

Không chỉ doanh nghiệp, hàng trăm nghìn người Venezuela cũng đang rời bỏ nước này, do không thể chịu được cuộc sống thiếu thốn nhu yếu phẩm, kể cả tại thủ đô Caracas. Nền nông nghiệp của Venezuela quá yếu do thời gian dài phụ thuộc vào nhập khẩu. Giờ đây, giá dầu lao dốc và thiếu hụt USD khiến họ chẳng mấy khi có hàng hóa mà dùng. Không chỉ thiếu lương thực, dược phẩm, người dân Venezuela nhiều khi còn không có điện, gas và nước sinh hoạt.

Và sau khi đổi tiền, họ còn đối mặt với một vấn đề nữa, là chia mọi thứ cho 100.000. Các nhà kinh tế học cho rằng, thông thường việc đổi tiền diễn ra với quy mô 10, 1.000 hay 1.000.000 để dễ tính toán.

“Tôi đang khá bối rối”, Edwin García – một công nhân xây dựng ở Caracas đang nhẩm tính thu nhập hiện tại của mình là bao nhiêu. Rất nhiều cửa hàng thì chọn cách niêm yết bằng đôla cho đơn giản.

Một điều khác khiến người ta lo ngại về tiền mới của Venezuela, là nó được đảm bảo bằng thứ gì. Thông thường, các chính phủ cam kết nội tệ có thể đổi lấy một đồng khác mạnh hơn, như đôla Mỹ hay euro. Trái lại, ông Maduro tuyên bố bolivar mới sẽ được bảo đảm bằng petro – tiền ảo nước này phát hành từ tháng 2. Và bản thân đồng petro lại được bảo đảm bằng dự trữ dầu mỏ của Venezuela.

Đây là điều khiến giới kinh tế e ngại. Do sản xuất dầu mỏ của nước này hiện chỉ để trả nợ cho Nga và Trung Quốc. “Họ đang neo nội tệ vào một tài sản chẳng ai muốn”, Daniel Lansberg-Rodríguez – biên tập viên tại tờ El Nacional (Venezuela) nhận xét.

Kế hoạch tăng giá nhiên liệu của ông Maduro cũng bị nghi ngờ. Người Venezuela hiện chỉ phải trả một khoản rất nhỏ khi mua xăng, gần như thấp nhất thế giới. Ông Maduro cho biết sẽ tiếp tục trợ giá cho những người đăng ký xe và một loại chứng minh thư với chính phủ. Còn những người không đăng ký sẽ phải trả theo giá quốc tế.

Tại các trạm xăng ở Caracas, nhiều người còn nghi ngờ kế hoạch này hơn. Alejandro Bolívar – một giám sát viên tại ngoại ô El Hatillo cho biết chưa có người nào của chính phủ đến đây chỉnh lại máy móc theo tiền mới hoặc giải thích cho họ cách kiểm tra chứng minh thư của người mua.

Các nhà kinh tế học thì cho rằng nếu muốn kiềm chế lạm phát phi mã, Venezuela cần phải ngừng in tiền. Hanke nhớ lại trường hợp tương tự tại Nam Tư trước đây. Ông là người cố vấn cho nước này đến năm 1991.

Dù Hanke phản đối việc đổi tiền, nước này vẫn tiếp tục bỏ 4 số 0 năm 1990. Chính phủ kế tiếp của Yugoslavia bỏ thêm 2 số 0 nữa năm 1992, rồi 6 số vào tháng 10/1993, 9 số vào tháng 12 cùng năm. Sang đầu năm 1994, họ tiếp tục xóa 7 số 0. Với siêu lạm phát 313 triệu phần trăm mỗi tháng, việc in tiền bao nhiêu cũng là không đủ.

“Đây là việc bất khả thi”, Hanke kết luận.

Hiện hữu về cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai

Qua nhiều cuộc khủng hoảng đã xảy ra và mức thiệt hại của nó thì cái mà người ta thường đề cập nhất chính là cái gọi là”chu kỳ khủng hoảng kinh tế” và mốc thời gian mà nhiều người luôn cho là đủ để xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế tiếp theo là 10 năm.

Theo TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), không có cơ sở về mặt khoa học để giải thích về hiện tượng khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ. Chu kỳ khủng hoảng 10 năm được ông Thành giải thích theo hướng chu kỳ của sự hưng phấn và tâm lý đám đông: “Như các nhà kinh tế nói, 10 năm là khoảng thời gian sự lãng quên có tác dụng. Sau thời kì khủng hoảng, có thể trong 5 năm đầu nhà đầu tư có tâm lý e sợ, năm thứ 6 nhà đầu tư sẽ bắt đầu bớt sợ. Sau đó, ký ức mờ nhạt đi và nhà đầu tư hưng phấn trở lại”. Điều này theo ông Thành có thể thấy rõ qua thị trường chứng khoán và bất động sản đã tăng mạnh trong 2-3 năm trở lại đây. Đến thời điểm này, các thị trường này bắt đầu vào thời kì điều chỉnh.

“Đây có thể là một sự trùng hợp, cũng có thể là tâm lý tổng hợp của đám đông”, TS Nguyễn Đức Thành nhận định.

Ở chiều ngược lại, TS Lê Xuân Nghĩa nguyên Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) cho rằng đã xuất hiện những dấu hiệu có thể đẩy nhanh chu kỳ khủng hoảng kinh tế.

Vị chuyên gia chỉ ra xung đột thương mại, bong bóng của thị trường bất động sản, suy thoái chứng khoán cũng đã xuất hiện. Tình trạng rút vốn ở một số thị trường mới nổi có thể dẫn đến bất ổn tiền tệ ở một số nước. Trên thực tế, bất ổn từ việc rút vốn này đã xuất hiện ở châu Mỹ La tinh và một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á.

Về phía cơ quan quản lý, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nhận định ít có khả năng xảy ra khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ từ những tín hiệu của nền kinh tế.

Bộ trưởng Dũng chỉ ra tình hình tài chính, tiền tệ hiện nay vẫn trong tầm kiểm soát và được điều hành linh hoạt, thanh khoản hệ thống ngân hàng tốt, mặt bằng lãi suất ổn định. Thị trường chứng khoán đã có bước điều chỉnh sau một thời gian tăng trưởng nóng; thị trường bất động sản đã có sự hạ nhiệt sau khi Chính phủ có những chỉ đạo quyết liệt đối với các giao dịch nhà đất không đúng quy định.

Người đứng đầu Bộ KHĐT cho rằng đó là những tín hiệu có thể lạc quan về khả năng xảy ra khủng hoảng kinh tế.

Không loại trừ khả năng xảy ra khủng hoảng kinh tế, nhưng ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thông kê cho rằng nếu có, đáy của chu kỳ khủng hoảng sẽ tới từ năm 2021 trở đi thay vì năm 2019 – 2020 như lo ngại.

Dù nhiều chuyên gia trong nướ vẫn có nhiều cái nhìn hoài nghi về việc xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế tiếp theo thì nhiều chuyên gia trên thế giới lại có cái nhìn khác. Phát biểu tại Hội đồng Đối ngoại châu Âu tại Paris ngày 29/5, ông Soros nói rằng phong trào chống lại Liên minh châu Âu hay còn gọi là “bài Liên minh châu Âu (EU)” gia tăng, Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, đồng USD tăng giá mạnh, và việc các nhà đầu tư rút vốn khỏi các thị trường mới nổi đang là những vấn đề gây ảnh hưởng xấu lên nền kinh tế toàn cầu.

“Chúng ta có thể đang tiến tới một cuộc khủng hoảng tài chính lớn nữa”, ông Soros nói.

Nhấn mạnh rằng sự gia tăng của chủ nghĩa dân túy ở châu Âu là một vấn đề lớn, ông Soros phát biểu: “EU đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng sống còn. Tất cả mọi thứ có thể đi lệch hướng đều đã đi lệch hướng”.

Theo vị tỷ phú này, từ năm 2008, chương trình thắt lưng buộc bụng của EU đã góp phần dẫn tới cuộc khủng hoảng hiện nay của châu Âu (Eurozone). Chương trình này là nguyên nhân khiến các phong trào bài EU gia tăng, một phần dẫn tới việc Anh rút khỏi EU (Brexit) và cuộc khủng hoảng chính trị đang diễn ra ở Italy.

Ông lập luận rằng cuộc khủng hoảng người tị nạn ở châu Âu, các phong trào ly khai lãnh thổ mạnh lên sau Brexit và chính sách thắt lưng buộc bụng chính là ba thách thức lớn nhất mà châu Âu đang phải đối mặt.

Bên cạnh đó, ông Soros cũng lo ngại về quan hệ rạn nứt ngày càng lớn giữa châu Âu và Mỹ trong vấn đề Iran. Theo ông, quyết định đơn phương rút khỏi thỏa thuận hạt nhân với Iran của Tổng thống Donald Trump về bản chất đã phá hủy mối quan hệ liên minh xuyên Đại Tây Dương này.

Ông Soros dự báo rằng, việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân với Tehran “chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế châu Âu và gây ra những ly khai lãnh thổ khác” và nói rằng “sức mạnh của đồng USD đã kéo theo sự tháo chạy khỏi đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi”.

Đây không phải lần đầu tiên có dự báo về nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009. Trước đó, tại Hội nghị quốc tế về Bảo hiểm tiền gửi diễn ra vào ngày 16/2/2017, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) Haruhiko Kuroda cảnh báo, lãi suất thấp tại các tổ chức tài chính hiện nay có thể đang tạo ra một cuộc khủng hoảng tài chính mới. Đây được coi là lời cảnh báo mạnh mẽ nhất của Thống đốc BoJ về nhược điểm của chính sách nới lỏng tiền tệ mà các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới hiện đang theo đuổi.

Theo phân tích của ông Kuroda, mặc dù động thái giới hạn lãi suất là rất cần thiết để tăng trưởng phục hồi, nhưng lãi suất giảm đã tác động tới lợi nhuận của các tổ chức tín dụng do biên lợi nhuận bị thu hẹp.

Còn Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu kể từ cuối 2015 đến 2016 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đưa ra cảnh báo về nguy cơ đổ vỡ nợ và các hệ thống tài chính toàn cầu sẽ khó tránh được nguy cơ khủng hoảng lan rộng. Theo cảnh báo của IMF, BIS (Ngân hàng Thanh toán Thế giới), WB (Ngân hàng Thế giới) và nhiều tổ chức khác, hệ thống tài chính toàn cầu đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng như giai đoạn 2008-2009, mà nguyên nhân và kịch bản của khủng hoảng này có phần như lặp lại. Đúng hơn, mồi lửa nhóm lên những lo ngại lại có vẻ giống nhau, đều mang một tên gọi chung là “Nợ khủng”.

Ảnh hưởng như thế nào tới Việt Nam?

Từ kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, nền kinh tế Việt Nam đã chịu không ít ảnh hưởng.

Ở Việt Nam, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã bị chậm lại và mọi tầng lớp dân cư của Việt Nam đều chịu ảnh hưởng, trong đó tầng lớp công nhân lao động chịu ảnh hưởng trực tiếp. Sản xuất bị thu hẹp, số người thất nghiệp sẽ tăng, thu nhập bị giảm sút.

Và nếu thực sự một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới nữa xảy ra, Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng chủ yếu về 2 mặt: hoạt động xuất khẩu gặp khó khăn và nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và gián tiếp nước ngoài sẽ bị gián đoạn.

Tại Việt Nam, phần lớn hoạt động sản xuất phục vụ cho lĩnh vực xuất khẩu sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì các thị trường lớn, như : Mỹ, EU là những thị trường truyền thống nhập  khẩu  hàng sản xuất từ Việt Nam bị khủng hoảng, do mức sinh hoạt của người dân bị đảo lộn, đòi hỏi người dân phải cắt giảm chi tiêu, thắt lưng buộc bụng, mức độ mua hàng giảm, nhu cầu thanh toán yếu… Vì  vậy, Việt Nam là một trong những nước ảnh hưởng  nặng trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa.

Khủng hoảng tài chính thế giới có thể khiến dòng đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam suy giảm vì những lo ngại về bất ổn kinh tế và sự suy thoái kinh tế toàn cầu.

Tổng hợp nhiều nguồn.

Related Posts

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of